CÁC VIỆN PHẢI TỔ CHỨC LẠI thực tiễn thị trường thủy sản miền Bắc hiện nay giống Trung Quốc vẫn chiếm đa số, ta hầu như chơi kiểm soát được, sao thế, thưa ông? hiện thời, tại các cửa hàng khi truy xét cỗi nguồn họ vẫn nói lấy cá từ các viện nhưng bản chất đó chỉ là một phần nhỏ, còn lại phần đông là từ Trung Quốc
Một nơi chỉ chuyên đẻ trứng và cho nở, sau đó cung cấp cho tuốt luốt các vệ tinh nuôi từ bột đến hương rồi lại đến nơi khác nuôi từ hương đến giống. Họ nghiên cứu mày mò sớm hôm, có khi ngủ cả ngoài ao nên sau một thời kì họ đã thu được kinh nghiệm để nuôi tốt nhất.
Trong các vắng của Viện 1 vẫn cho rằng giống cá của ta không thua kém gì nhưng khi nói các địa phương họ phản đối ngay. Địa phương nào cũng có trại, trọng tâm nuôi cá cha mẹ để SX cá giống thương phẩm và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 (Viện 1) mỗi năm cho ra đời rất nhiều quy trình, giống thủy sản cha mẹ mới, nhưng đã rất lâu rồi, Viện và địa phương, những nơi đáng lẽ phải rất gắn kết này lại ít khi hợp tác với nhau? Trước đây, khi có chương trình hỗ trợ về giống, Viện 1 đã đi đến 15 tỉnh, thành phía Bắc chuyển giao công nghệ, cá cha mẹ cho các địa phương tự SX cá giống thương phẩm.
Mình có thể học hỏi kinh nghiệm của họ. Mới rồi, đã cung cấp được khoảng 20 triệu con giống cho phía Bắc và cho Viện 1. Lúc đầu làm giống cá vược cũng rất khó khăn, nhưng do nhu cầu nhiều, giá cá tăng, dân nối làm, giờ đã cơ bản hoàn thiện được quy trình.
Vì cá ba má mình không thể cứ nuôi tràn lan được. Có khi đầu mùa thiếu nhưng sau đó lại thừa làm giảm giá cá thương phẩm vì dân thu hoạch cùng một thời khắc.
Ngành giống phía Bắc cần phải được tổ chức lại chuyên nghiệp hơn Nếu phân cấp như vậy sẽ chuyên môn hóa các công đoạn, giúp nâng cao năng suất và giảm giá thành sản phẩm. Theo ông, các viện thủy sản hiện, bình quân mỗi viện có khoảng 50 tỉ đồng dành cho nghiên cứu hàng năm đã đủ chưa? Bình quân mỗi viện có 40 - 50 tỉ đồng/năm là đủ rồi.
Bởi lẽ với người dân “đồng tiền gắn liền khúc ruột”, họ xáp hơn, họ mà thua thì họ chết. Lấy tỉ dụ với con cá rô phi, một trong những giống thủy sản chủ lực tại miền Bắc bây giờ, lãnh đạo Viện 1 nói rằng rô phi của mình không thua kém gì rô phi Trung Quốc, Đài Loan, trong khi dân ta lại cứ sính ngoại? Vừa rồi tại hội nghị thủy sản ở Tuyên Quang cũng đã tranh luận về vấn đề này.
Theo kinh nghiệm của người dân nuôi thì họ thấy giống của Trung Quốc nhỉnh hơn một tí, rô phi của mình nuôi 5 tháng được khoảng 6 lạng nhưng của họ 7 - 8 lạng, có khi 1 kg. NNVN có cuộc đàm đạo với ông Nguyễn Huy Điền (ảnh) - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT). Lí do cá giống bác mẹ rất đắt, nếu muốn có được cá giống thương phẩm tốt phải làm đúng quy trình, rất tốn kém, phí tổn TĂCN thủy sản của ta lại cao chót vót nên kiên cố sẽ không có lãi vì giá giống thương phẩm thấp.
Bên cạnh đó, hiện các quy trình về SX giống thủy sản của ta vẫn chưa thật sự hoàn chỉnh, tỉ lệ cá sống qua các tuổi từ trứng lên bột, bột lên hương, hương lên giống còn quá thấp. Giờ chỉ cần đôn đốc các địa phương thực hành đúng Thông tư 26 sẽ thu được kết quả, từ đó khắc phục được nhiều hạn chế từ những năm trước đây.
Quan trọng bây chừ là phải nâng cao, hoàn thiện công nghệ, quy trình SX. THÔNG TƯ RA QUÁ MUỘN Thưa ông, Quyết định 2194 của Chính phủ ưng chuẩn Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020 đã có từ năm 2009, nhưng có vẻ nó không giúp gì nhiều cho hoạt động SX-KD giống thủy sản tại miền Bắc những năm qua? Đúng là Chính phủ đã có Quyết định 2194 ưng chuẩn phát triển ngành giống đến năm 2020, trong đó có lĩnh vực giống thủy sản.
Thí dụ, ở Đài Loan họ chỉ có một nơi sinh sản nuôi cá bố mẹ. Đằng này, ở nước ta luôn hình thành nên một tư duy đã nghiên cứu là phải thành công, nếu thất bại nguy cơ bị cắt, bị thu hồi đề tài là rất cao. Nếu không có hỗ trợ khó có thể khuyến khích địa phương họ làm được.
Ví dụ, con cá vược (chẽm) quy trình đã được hoàn thiện. Bản thân các tỉnh hiện vẫn đang phải chờ văn bản chỉ dẫn về việc rà soát, xử phạt trong lĩnh vực giống thủy sản nữa mới có thể vận hành trơn được
Về công nghệ, Việt Nam chúng ta không kém cạnh các nước, chỉ cần thêm kinh nghiệm quản lý để nâng cao kết quả. Công nghệ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Năm 2012, Bộ NN-PTNT đã cho xây trọng điểm giống nhà nước chuyên sinh sản cá rô phi giống cung cấp cho miền Bắc ở hồ Phù Ninh, tỉnh Quảng Nam. Đây cũng là lí do các giống của Viện 1 chỉ sau thời kì ngắn là không có người mua vì đắt hơn rất nhiều giống ngoài thị trường do dân SX.
Xin cảm ơn ông! “Trong nghiên cứu khoa học cũng có lúc thất bại lúc thành công. Tuy nhiên, sắp tới các Viện về thủy sản sẽ phải họp lại để nghiên cứu phương hướng, chiến lược có lí, phải tổ chức lại chứ cứ để như hiện nay là chưa ổn.
Nhưng nói thật với anh, quá trình đi các địa phương, chúng tôi nhận thấy ít nơi tiếp cận được chính sách ưu đãi này bởi thủ tục rất rườm rà. Nay có Thông tư 26 hướng dẫn về cai quản giống, được các đơn vị rất hưởng ứng. Ví Thông tư 26 ra đời sớm hơn nữa thì ngành thủy sản không đến nỗi bát nháo như bây giờ.
Tỉ dụ, nuôi một con cá song vua bác mẹ lên tới 70-80 kg sẽ rất tốn TĂCN, nếu nơi nào cũng nuôi sẽ không hiệu quả.
Chính nên, nhiều khi người làm nghiên cứu vì chọn giải pháp an toàn nên đôi khi phải ép cho ra sản phẩm, việc nghiên cứu thành thử ít khi có sự đột phá”, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Nguyễn Huy Điền.
Nhưng từ khi hết chương trình, các tỉnh phần nhiều đều không nhập cá ba má từ Viện 1 nữa. Hiện giờ, chúng ta có quá nhiều nơi SX cá cha mẹ, nơi nào cũng làm dẫn tới chất lượng không cao, không chuyên sâu.
Ở những nông trại làm ăn lớn họ không làm như thế mà họ vào cá rải vụ. Ngay như làm giống thủy sản nước mặn khó khăn và tốn kém nhất, hiện nhiều nơi đã bắt đầu làm được. Việc bất cập khi cá rô phi giống của ta ra chậm hơn rô phi của Trung Quốc tới 1 tháng, cái này Bộ đã khắc phục được rồi.
Được biết, trước đây ông từng công tác tại Viện 1. Song, việc vào cá cùng một thời điểm có cái rất dở cho đầu ra sau này. Phân chia công đoạn rõ ràng như vậy. Còn Thông tư 26 về quản lí giống thủy sản, phải khó nhọc lắm đến tận tháng 5/2013 vừa qua mới được ban hành nên vô hình chung gây khó khăn, lúng túng cho các địa phương trong việc quản giống thủy sản.
Nhìn tổng thể, ngành thủy sản miền Bắc cũng chỉ thiếu cục bộ thôi bởi những công nghệ mà Viện 1 chuyển giao ra ngoài đời sống chỉ một thời kì sau có người dân họ làm được luôn và làm tốt hơn rất nhiều.
Ngay như các cơ sở bán cá giống ở cổng Viện 1 tại Từ Sơn, Bắc Ninh họ nói lấy cá từ Viện nhưng chưa chắc đã đúng. Mặt khác, các văn bản, quy định về xử phạt trong lĩnh vực SX-KD giống thủy sản của ta còn chưa hoàn thiện nên các trọng điểm, trại giống họ nhập lậu cá giống từ bên ngoài hoặc dùng cá thịt để cho đẻ, uổng thấp nên mới xảy ra tình trạng cá ba má Viện 1 làm ra tốt nhưng không có người mua.
Tâm lí người dân mình cứ thấy rẻ là họ mua.